telegram
whatsapp
chat
zalo
call

Đơn khởi kiện được sửa đổi trong trường hợp nào

Khi quyền và lợi ích bị xâm phạm. Cá nhân, tổ chức có quyền khởi kiện yêu cầu tòa án bảo vệ quyền lợi của mình. Sau khi nhận đơn khởi kiện Tòa án sẽ thụ lý vụ án. Trong nhiều trường hợp đơn khởi kiện sẽ có những sai sót. Vậy đơn khởi kiện được sửa đổi trong trường hợp nào?

Nội dung đơn khởi kiện

Theo quy định tại khoản 4 Điều 189 BLTTDS năm 2015. Đơn khởi kiện bao gồm những nội dung sau:

Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;

Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;

Tên, nơi cư trú, làm việc của người khởi kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người khởi kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có).

Trường hợp các bên thỏa thuận địa chỉ để Tòa án liên hệ thì ghi rõ địa chỉ đó;

Tên, nơi cư trú, làm việc của người bị kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người bị kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có). Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người bị kiện thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người bị kiện;

Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền và lợi ích liên quan

Quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết.

Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng (nếu có);

Danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện.

Trường hợp sửa đổi nội dung đơn khởi kiện

Theo Điều 193 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Quy định về trường hợp sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện như sau:

  1. Trường hợp đơn khởi kiện không có đủ các nội dung quy định tại khoản 4 Điều 189 của Bộ luật này thì Thẩm phán thông báo bằng văn bản nêu rõ những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung cho người khởi kiện để họ sửa đổi, bổ sung trong thời hạn do Thẩm phán ấn định nhưng không quá 01 tháng; trường hợp đặc biệt, Thẩm phán có thể gia hạn nhưng không quá 15 ngày. Văn bản thông báo có thể được giao trực tiếp, gửi trực tuyến hoặc gửi cho người khởi kiện qua dịch vụ bưu chính và phải ghi chú vào sổ nhận đơn để theo dõi. Thời hạn thực hiện việc sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện không tính vào thời hiệu khởi kiện.
  2. Trường hợp người khởi kiện đã sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo đúng quy định tại khoản 4 Điều 189 của Bộ luật này thì Thẩm phán tiếp tục việc thụ lý vụ án; nếu họ không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện.

Như vậy, người khởi kiện phải sửa đổi nội dung đơn khởi kiện khi có thông báo của thẩm phán.

Trên đây là bài viết của Luật sư Bến Cát. Nếu bạn còn thắc mắc hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn cụ thể. Chúng tôi có đội ngũ luật sư giỏi, tư vấn luật chuyên sâu.

Chuyên Mục: Tư Vấn Pháp Luật

Chủ Đề:

HÃY ĐẶT CÂU HỎI CỦA BẠN

Để được tư vấn ngay vui lòng gọi cho Luật sư của chúng tôi theo số: 0916 39 79 19